Kr@z7_&_U3vNtv_$>

[HOWTO] Cài đặt Asterisk 1.6 trên Ubuntu

Posted in Asterisk by krazv7rvn9 on 03/06/2009

Các lệnh để bạn cài đặt Asterisk 1.6 trên Ubuntu Linux:

## Build the DAHDI kernel modules, for MeetMe function

DAHDI là tên gọi mới của module Zaptel trên Asterisk 1.4.x, để điều khiển các card Digium (dành cho cổng FXO, FXS và E1/T1). Nếu bạn muốn dùng chức năng Conference của Asterisk, bạn phải cài đặt DAHDI hoặc Zaptel để nó load module dahdi_dummy hay zaptel_dummy vào trong kernel.

Để cài đặt DAHDI, ta phải có gói header của nhân linux đang dùng, cùng với gói build-essential.

$> apt-get install linux-headers-`uname -r` build-essential
$> wget http://downloads.asterisk.org/pub/telephony/dahdi-linux-complete/dahdi-linux-complete-current.tar.gz
$> tar xzvf dahdi-linux-complete-current.tar.gz
$> cd dahdi-linux-xxxx
$> make
$> make install

Để cài đặt Asterisk, ta phải cài thêm gói libncurses-dev, libeditline, libnewt

## For generate configuration menu
$> apt-get install libncurses-dev libeditline0 libeditline-dev libedit-dev libnewt-dev

Ngoài ra, bạn cần có thêm các gói sau để có thêm lệnh SendFAX và ReceiveFAX:

## For FAX
$> apt-get install libspandsp-dev

Để có codec SpeeX, cài thêm 2 gói :

## For SpeeX
$> apt-get install libspeex-dev libspeexdsp-dev

Còn để có thể ghi âm hay đọc định dạng Ogg Vorbis – định dạng mở thay thế cho MP3, ta phải cài thêm gói libvorbis-dev nữa:

## For Ogg Vorbis Format
$> apt-get install libvorbis-dev

Cuối cùng là thực hiện biên dịch và cài đặt.

## Run the configure script
$> wget http://downloads.asterisk.org/pub/telephony/asterisk/asterisk-1.6.1-current.tar.gz
$> tar xzvf asterisk-1.6.1-current.tar.gz
$> cd asterisk-1.6.1-xxx
$> ./configure
$> make menuselect
$> make install
$> make config
$> make samples

Cài đặt thêm gói Asterisk Addons để sử dụng kênh H.323, format MP3 và ghi CDR vào CSDL MySQL.

## Install asterisk addons
$> wget http://downloads.asterisk.org/pub/telephony/asterisk/asterisk-addons-1.6.0-current.tar.gz
$> tar xzvf asterisk-addons-1.6.0-current.tar.gz
$> cd asterisk-addons-1.6.0-xxx
$> apt-get install libmysqlclient16-dev
$> make
$> make menuselect
$> make install
$> make samples

Cuối cùng, cấu hình Asterisk chạy dưới tên người dùng asterisk và nhóm asterisk:

## Create the system group and user
$> groupadd -r asterisk
$> useradd -r -g asterisk asterisk
## Edit the init files
$> vim /etc/asterisk/asterisk.conf
Sửa lại dòng runuser và rungroup thành asterisk.

Đại loại là vậy!!!

Tagged with: , , ,

[Fixed] Phím tắt cho GNOME trên Jaunty Jacklope

Posted in GNOME Desktop, Ubuntu by krazv7rvn9 on 03/06/2009

Sau một hồi google lung tung, tôi đã tìm ra cách đặt phím tắt trên Jaunty Jacklope. Lời giải ở đây!

Trên các bản Ubuntu trước (từ Intrepid trở xuống), để thiết lập phím tắt cho GNOME, ta có 2 cách:

1 – Nhấn Alt+F2, gõ gconf-editor và Enter. Trong cây khóa ở bên trái, duyệt tới /apps/metacity/global_keybindings. Ở ô bên phải, ta sẽ thấy có các khóa run_command_x (x từ 1 – 12). Sửa nội dung các khóa này thành phím tắt muốn dùng. Sau đó chọn tiếp khóa /apps/metacity/keybinding_commands ở ô bên trái. Trong ô bên phải lúc này sẽ có các khóa tên là command_x (x từ 1 – 12). Nhập lệnh cần chạy tương ứng với phím tắt đã nhập vào ô run_command_x ở trên. Ví dụ:

  • run_command_1: <Control><Alt>f
  • command_1: firefox

2 – Cài thêm gói compizconfig-settings-manager rồi sử dụng plugin Commands của nó để quy định các phím tắt, tương tự như trên.

Cách 1 trên Jaunty không hoạt động nữa. Cách 2 thì vẫn chạy được, nhưng phải cài thêm trình quản lý compiz. Với tôi, chừng này hiệu ứng là đủ, và tôi thích dùng metacity hơn là emerald.

Sự thực thì ở bản này, vị trí các khóa trong gconf-editor đã thay đổi. Thay vì /apps/metacity/, để cấu hình phím tắt, ta phải sửa khóa /desktop/gnome/keybindings.

Xem trong hướng dẫn từ ubuntu-forum, tôi viết 1 bash script để làm việc này:

#!/bin/bash
# Custom shortcut keys for GNOME
# Ubuntu 9.04 Jaunty Jacklope

# Gedit shortcut
echo -n “Configuring shortcut key for gedit…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom1/binding “<Control><Alt>g”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom1/name “GEdit”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom1/action “gedit –new-document”
echo “Done.”

# Bluefish Editor
echo -n “Configuring shortcut key for Bluefish Editor…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom2/binding “<Control><Alt>b”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom2/name “Bluefish”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom2/action “bluefish-unstable”
echo “Done.”

# Exaile
echo -n “Configuring shortcut key for Exail Music Player…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom3/binding “<Control><Alt>m”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom3/name “Exaile Music Player”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom3/action “exaile”
echo “Done.”

# Firefox
echo -n “Configuring shortcut key for Firefox…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom4/binding “<Control><Alt>f”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom4/name “Firefox”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom4/action “firefox”
echo “Done.”

# Evolution
echo -n “Configuring shortcut key for Evolution…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom5/binding “<Control><Alt>e”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom5/name “Evolution”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom5/action “evolution”
echo “Done.”

# Pidgin
echo -n “Configuring shortcut key for Pidgin…”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom6/binding “<Control><Alt>p”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom6/name “Pidgin”
gconftool-2 -t str  –set /desktop/gnome/keybindings/custom6/action “pidgin”
echo “Done.”

Câu lệnh gconftool-2 có vai trò tương tự như gconf-editor, cho phép sửa dữ liệu registry của GNOME. Đơn giản là ta sẽ thêm vào 1 thư mục khóa customx (x là 1 số tự chọn), với 3 khóa có nội dung là:

  • binding : tổ hợp phím bạn muốn dùng. <Control> cho phím Ctrl, <Alt> cho phím Alt, <Shift> cho phím Shift.
  • name : Đặt tên ứng dụng muốn chạy.
  • action: Câu lệnh để khởi chạy ứng dụng.

Ta có thể thêm bao nhiêu phím tắt vào cho GNOME cũng được. Chỉ việc chép lại 3 dòng lệnh trên (2 dòng echo cho nó đẹp), và sửa lại đánh số x cho thư mục khóa, cùng với tên và câu lệnh là được.

Sau đó ta chạy file này (với tài khoản của mình, không cần dùng sudo hay chuyển sang tài khoản root đâu!)

dinhtrung@dinhtrung-laptop:~$ bash /home/dinhtrung/Documents/Bash\ scripts/Jaunty-shortcuts.txt

Thật là tiện dụng phải không? Tí nữa là đánh giá thấp Jaunty rồi!

My Ubuntu 9.04 Review

Posted in Ubuntu by krazv7rvn9 on 03/06/2009

Hôm qua mình vừa ngồi cài lại Ubuntu từ 8.04 lên 9.04. Thực ra là bản cài đặt cũ đã bị sửa chữa nát bươm, nên khi nâng cấp bị lỗi gì đó liên quan đến udev. Đến lúc khởi động lại thì không nhận ổ cứng dạng UUID nữa. Ngồi debug thì mất thời gian, nên thôi, cài lại (bản cũ dùng đang ngon =(( ).

Cài đặt

Sau 1 năm, phải nói là trình cài đặt của Ubuntu đã có rất nhiều tiến bộ. Phần giao diện phân vùng bây giờ sặc sỡ hơn, thân thiện hơn. Trình cài đặt Ubiquity đã được Việt hóa toàn bộ, nên sử dụng rất thuận tiện. Bất cập duy nhất có lẽ vẫn là phần shortcut key, vì muốn nhấn nút “Tiếp”, băng cách nhấn Alt+T, thì vẫn bị trùng với một số phím tắt khác. Có thể nhấn phím tắt nhiều lần rồi Enter, nhưng vẫn không hay bằng giao diện tiếng Anh. Cái này chắc phải chờ chuẩn hóa thuật ngữ và phím tắt, rồi sửa lại thì mới ổn, vì có quá nhiều gói liên quan đến nhau, và nhiều người dịch. Làm sao đây, làm sao đây???

Quá trình cài đặt diễn ra hết khoảng nửa tiếng (tôi tháo cáp mạng để bỏ qua bước quét repository – dùng server virror nhanh hơn là FPT mirror). Mọi thứ đều trơn tru.

Ấn tượng ban đầu

Ubuntu 9.04 có ô notification đẹp mê ly! Khi tăng, giảm volume, ánh sáng, cắm sạc, có tin nhắn Pidgin, nhận được thư mới hoặc bật bài hát mới, ô Notification sẽ hiện lên. Có lẽ đây là cải thiện đáng kể nhất về giao diện của Ubuntu từ 8.10 đến giờ.

Các thao tác trên Nautilus cũng được cải thiện đáng kể về mặt tốc độ. Trên Nautilus, ta có thể mở nhiều Tab, giúp cho việc quản lý tập tin nhanh chóng và thuận tiện hơn hẳn bản 8.04 (monotone lắm! :D ). Trình quản lý file này vốn được coi là ì ạch, nhưng giờ tôi thấy cũng khá là “nuột”, đặc biệt là khả năng kết nối trực tiếp FTP, SSH (kết nối tới máy Linux khác) và Windows WEBDAV (chia sẻ file với máy Windows). Cái này đặc biệt thuận tiện, vì nó giúp sửa file trực tiếp mà không cần mình phải đăng nhập vào máy chủ Linux ở ngoài mạng thông qua câu lệnh SSH như trước nữa.

Sau khi cài đặt thêm gói ubuntu-restricted-extras, tôi có đủ bộ Flash plugin cho Firefox, các codec phát MP3, video .wmv và bộ phông Microsoft cho Linux (cái này để tăng tính tương thích với các bác bên Win, chứ tôi vẫn thấy phông Dejavu xài vẫn ổn :-( ).

Nhìn chung là Ubuntu 9.04 tạo được ấn tượng ban đầu khá tốt.

Tuy nhiên…

Khen rồi, giờ đến chê.

Đầu tiên là metacity không hỗ trợ phím tắt. Không rõ là lỗi do đâu, vì trên 8.10, chức năng này vẫn hoạt động tốt. Ngoài các phím tắt mặc định, các phím tắt quy định bằng gconf-editor giờ không hoạt động nữa. Đây thực sự là một thiếu sót quan trọng, vì tôi có thói quen dùng phím tắt để mở Firefox, Evolution, Gnome-terminal và Pidgin mỗi lần bật máy. Chưa có thời gian tìm ra cách sửa lỗi này…

UPDATE: Lỗi này đã được sửa. Xem ở đây.

Thứ hai, Ubuntu 9.04 không có gói OpenVZ trên repo, nghĩa là thói quen dùng máy ảo OpenVZ giờ cũng tan biến theo bản 8.04 trước đây. Kernel dùng trên 8.04 là 2.26.24, còn 9.04 là 2.26.28. Vấn đề được Mark Shuttleworth nhấn mạnh trong 9.04 là cải thiện tốc độ khởi động trên laptop. Vì vậy, nếu buộc phải dùng kernel openvz của 8.04 trên này, chắc chắn tôi sẽ mất đi “cải tiến” này… Làm sao đây??? Hiện cộng đồng OpenVZ cũng mới chỉ đưa ra gói deb cho 8.04 (Hardy). Vậy chắc sẽ phải chờ thêm…

Thứ ba, chính cái notification area đẹp lung linh lại khiến cho các tác vụ quản lý khó dùng hơn. Nó nhóm tất cả các thông báo vào 1 chỗ: muốn mở Pidgin, thay vì nhấn vào icon như trước, tôi phải nhấn vào icon của Notification Area, rồi kéo xuống, chọn Pidgin. Mà muốn mở friend list thì phải làm 2 lần mới được. Tương tự với thư mới… Không giống như libnotify, khi Pidgin nhận được tin nhắn mới, notification area không có nút Show, nên chả thể nào nhấn luôn vào ô popup để mở cửa sổ trả lời bạn. Tôi không cần ô popup đẹp lắm, chỉ cần dễ dùng như libnotify ngày xưa là được rồi!

That’s it. For now. Sau 1 thời gian dùng, sẽ tiếp tục review và cập nhật vào topic này.

Tagged with: , , ,
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.